Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

ĐIỆU RU CON XỨ HUẾ - VÀ ĐỊA DANH LIÊN QUAN



"À ư...
Ru con con théc(t) cho muồi,
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi Chợ Quán, Chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu Chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai.
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim..."
          Chợ Quán là nói tắt của làng Lương Quán, vùng Nguyệt Biều. Ai cũng biết vùng này của đất Thừa Thiên có đá vôi, thời Pháp thuộc đã khai thác nhà máy vôi Long Thọ, sản xuất vôi dùng vào việc xây cất nhà cửa, cầu cống. Còn Chợ Cầu , có nhiều cách nghĩ, có thể là chợ trên cây cầu, chợ cầu làng Thanh Lương... nhưng theo tôi nghĩ đó là chợ cầu Hai, vì vôi có 2 nguồn, có thể từ núi đá vôi và cũng có thể từ vôi động vật thân mềm như hàu, trai... mà Cầu Hai Phú Lộc thì những loài này rất nhiều. Ngày nay vùng Lăng Cô vẫn còn nung hàu lấy vôi đó.
Nói đến cau, ta nghĩ ngay đến Nam Phổ, một làng cạnh dòng sông Hương thơ mộng, từ Đập đá đi xuống. Làng trồng rất nhiều cây cau cao vút, vì gần nước nên cau rất ngon và sai quả. Ai mà không khỏi bật cười khi nghe nói "Con gái Nam Phổ... ... trèo cau"? Ngoài ra làng này còn nổi tiếng với món Bánh Canh Nam Phổ vào mỗi buổi chiều.
Mua trầu chợ Dinh. Đó là Trầu Cau (có khi gọi là Trầu Mọi) ở xứ Cùa, tỉnh Quảng Trị đưa vào do người dân tộc bán về Dinh, Trầu Quế (có hương vị cay) màu lục, lá dày. Trầu “xà lẹt” lá dài và nhọn như lá tiêu, có nhiều sứa, màu hơi vàng vàng, phải người sành ăn mới dùng được vì nó hôi lại có mùi hăng, vị chát, không quen ăn đến phỏng miệng. Trầu Hương (thơm ngon) lá lục, thường người ta bán ở Huế cao giá hơn các thứ trầu kia.
Loại Trầu Hương này đi đôi với cau Nam Phổ, là hai món hàng “quí phái”, nhiều khi đắt giá đến nỗi mấy o đi chợ phải lên giọng than phiền bằng câu: “Cau Nam Phổ mỗi trái mỗi giác, Trầu Hương mỗi ngọn mỗi tiền” ! Dầu đắt giá thế đó mà vẫn mua về hầu mẹ (nên nhớ rằng thuở người ta buông ra lời than vãn ấy, một gánh gạo, dưới quê lên Dinh chỉ giá một đồng bạc thôi).
Nhưng vì sao phải đi chợ Dinh mới mua được trầu ngon đủ hương vị cho người sành điệu nhóp nhép? Số là chợ Dinh lúc bấy giờ cũng như chợ Đông Ba hồi đó là nơi hẹn hò khách bốn phương về chầu chúa Nguyễn.

Chợ dinh bán áo con trai. Nhiều người đưa giả thuyết là bán áo con trai (đàn ông) rồi cứ dẫn chứng này nọ, thế sao không nói đến áo con gái, áo con gái bán ở đâu. Theo tôi nghĩ “áo con trai” ở đây chính là thịt con trai, con hến, vì chợ Dinh nằm cạnh Cồn Hến, người dân khai thác hến ở dưới sông đem lên đây để bán. Phần áo trai không tin mọi người giở sách Sinh học lớp 7 ra mà xem.
Theo nhà báo Đan Duy đăng trên Báo Thừa Thiên Huế số ra ngày 12/10/2011 như thế này: ‘Thời của “Chợ Dinh bán áo con trai” cũng là thời chiếc áo vải thô nặng trịch. Trong cảnh vạt áo vá vai, chuyện áo quần cho con trẻ, các bậc cha mẹ nghèo cũng không có cách nào hơn, thường phải tận dụng đồ phế thải của người lớn để may lại. Áo may đơn giản, không cầu kỳ trai gái, cốt có để mặc. Nắm bắt nhu cầu đó của người đời, một số kẻ tìm mua quần áo cũ đem về may lại đồ con nít đủ cỡ, rồi đem “bỏ chợ” như một nghề kiếm sống. Chiếc áo phi nam phi nữ kia, muốn cho dễ ngó thì có anh thợ nhuộm, cứ thuê nhuộm đủ màu để người mua tha hồ lựa chọn.” Không biết ông căn cứ ở đâu nữa.

Triều Sơn bán nón. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn thì: “Nón dứa ờ Thuận-hóa cách chế nón khác các nơi. Thôn Tam-giáp-thượng và làng Triều-sơn ở huyện Phú-vinh ( Tư Vinh) dệt nón rất là nhỏ và mỏng. Làng Triều Sơn trước đây gọi là Triều Sơn xã, thuộc huyện Tư Vinh. Sau này chia thành bốn giáp Đông, Nam, Tây, Trung mà ta thường gọi là Triều Sơn Đông, Triều Sơn Nam ( thuộc xã Hương Vinh, Hương Trà), Triều Sơn Tây (phường An Hòa, thành phố Huế), Triều Sơn Trung (xã Hương Toàn, Hương Trà).
Mậu Tài bán kim. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn: “Làng Võng-thì huyện Phú-vinh chuyên nghề làm cuốc sẻng dao búa. Làng Mậu-tài chuyên nghề làm giây thau giây sắt”. Có thể giây thau giây sắt này là nguồn gốc của nghề làm kim khâu hiện tại. Làng Mậu Tài hiện nay thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế ( đối diện Làng Triều Sơn Đông bên kia sông Hương).

Bài sử dụng văn phong và cách nghĩ riêng của tác giả. Nhờ các nhà Huế học cho ý kiến.
TRẦN TRUNG

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

CỒN LỚN TRIỀU SƠN QUA CÁC THỜI KỲ (2002-2015) - CẬP NHẬT 2017


Cồn lớn Triều Sơn nằm ở giữa sông Hương đoạn trên ngã ba Sình theo phía thượng nguồn. Lịch sử hình thành Cồn lớn có liên quan đến sự dịch chuyển giao thương của Thương cảng Thanh Hà lên phố Bao Vinh một thời sầm uất của xứ Đàng Trong, Cồn đồng thời cũng là nơi canh tác nông nghiệp lâu đời của người dân Triều Sơn. Qua bao nhiêu năm bồi lở theo quy luật tự nhiên thì hiện nay Cồn đã bị sạt lở nghiêm trọng do nạn khai thác cát trái phép mà chính quyền và người dân địa phương hiện nay vẫn chưa có giải pháp xử lý dứt điểm.
Dưới đây là hình ảnh từ năm 2002 đến năm 2015 được cắt ra từ ảnh bản đồ của Google.

Ảnh ngày 18/4/2002. Cồn còn nguyên vẹn

Ảnh ngày 29/10/2012 Sạt lở phần dót trên và một phần bên phía làng Thanh Tiên

Ảnh ngày 23/7/2014 Lở sâu hơn ở chỗ cũ

Ảnh ngày 16/5/2015 Lở nghiêm trọng hơn, đặc biệt là phía Thanh Tiên

Ảnh ngày 01/05/2017 bị hút cực kỳ nghiêm trọng.
Càng ngày càng cho thấy bọn cát tặc biết rõ phạm vi quản lý của Cồn Lớn. Nên chúng hút cát phía khuất bên kia để người dân xã Hương Vinh không biết.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

BÀN VỀ CHUYỆN BỚI MẢ Ở ĐẤT THỪA THIÊN.


Từ nhỏ đến lớn sống ở Thừa Thiên thì TT cũng biết được nhiều phong tục tập quán cũng như những cái tốt và xấu của đất Thừa Thiên. Người Thừa Thiên mà tức nhau, chửi nhau thậm tệ thì họ cũng hay dùng từ "BỚI MẢ" để chỉ điều đó. Thế mà mấy hôm nay lại có rất nhiều người đi BỚI MẢ một bậc hiền nhân, một vị vua giỏi đánh giặc, giỏi ngoại giao và cũng là một nhà cải cách.
Mà theo tôi nghĩ, việc BỚI MẢ này chắc chắn sẽ không đem lại kết quả gìnhiều vì sẽ có 2 giả thiết sau đây:
Thứ nhất: Ngôi mộ đó còn nguyên. Như chúng ta biết, các bậc vua chúa thường rất kỹ càng trong việc chôn cất. Chỗ chôn vua là chỗ bí mật để kẻ thù, kẻ trộm mộ và người đời sau không BỚI lên. Theo dân gian thì những người đi chôn vua sẽ có án tử ngay khi vừa chôn xong để không ai biết chính xác huyệt mộ ở đâu. Thế thì hơn 200 năm với bao nhiêu vật đổi sao dời, mưa gió bão lụt của đất Thừa Thiên sẽ làm cho không còn dấu vết và giống như mò kim đáy bể.
Mấu chốt của lập luận ông X là câu: “Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta” (cung điện Đan Dương là nơi chôn cất thi hài của nhà vua) trong phần chú thích của bài thơ Cảm hoài của Ngô Thì Nhậm. Theo thuyết âm mưu thì chẳng qua ông Ngô Thì Nhậm tung ra câu này là để đánh lạc hướng quân của Vua Gia Long sau này thôi. Vì mộ giấu được chứ cung điện thì nằm chình ình ra đó, tung cái tin hỏa mù để vớt vác được chừng nào hay chừng đó, đường nào mình cũng chết rồi.
Giả thiết thứ hai: Ngôi mộ chôn vị trí nhiều người biết như trong cung Đan Dương mà ông X nói chẳng hạn. Thế thì theo đúng như các chuyện kể về Triều Nguyễn nói rồi. Tương truyền nhà Nguyễn sau khi giành lại Phú Xuân đã trả thù nhà Tây Sơn bằng nhiều phương pháp như đào mộ Vua Quang Trung lên rồi giã ra, cho quân lính làm nhục, rồi bỏ đầu lâu vào vò cùng 2 vị vua Tây Sơn khác rồi đem giam, theo tin đồn thì khi thất thủ kinh đô năm 1885 thì các vò này được ai đó cứu ra và mất tích từ đó đến nay. Và nếu giả thiết thứ 2 này đúng thì chắc chắn cái mộ đó tanh bành rồi chứ còn mà đợi các ông khai quật.
Nếu đặt tên cuộc khai quật theo ý khai quật các di chỉ, di tích thời Tây Sơn thì còn được chứ đừng có theo cái ý là đi BỚI MÃ.
Dù gì cũng xin lỗi bậc tiền bối vì đã mạo phạm, nhưng tôi không thích ỷ già mà chém gió.
TT, dân Thừa Thiên.

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

Văn Miếu và Miếu Hội đồng tại Làng Triều Sơn

Phần nhiều các sách viết về xứ Đàng Trong đều chưa làm sáng tỏ về việc học hành và khoa cử dưới thời 9 chúa ở phía Nam. Có nêu chăng là chỉ nhắc đến các khoa thi Chính đồ và Hoa Văn để tuyển chọn nhân tài, ngoài việc tuyển cử người hiền ra giúp nước.
Hiện chúng ta chưa thấy có tài liệu nào xác định rõ đất Triều Sơn được chọn lập Văn Miếu từ năm nào, chỉ nói vào buổi quốc sơ, theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí. Thuở xa xưa, Triều Sơn chưa phải là Xã vì sách Ô Châu Cận Lục không ghi chép tên làng văn hiến này. Sách Phủ Biên Tạp Lục cho biết Triều Sơn xã thuộc Mậu Tài (1), huyện Phú Vang. Cần lưu ý là ranh giới hành chính hoàn toàn khác hẳn với ngày nay. Ngày xưa xã là làng, làng là xã. Một vinh dự lớn cho làng Triều Sơn, là vào tháng 5 năm Giáp Tý, niên hiệu Gia Long thứ 3 (năm 1806), triều đình dựng miếu Hội đồng ở làng văn hiến này và chọn 30 người dân làm miếu phu. Đừng coi thường làng nổi tiếng về nghề thủ công làm nón này. Trước năm 1692, làng Triều Sơn đã có Văn miếu, chúa Nguyễn Phúc Chu thường ra đây xem cảnh vật và có ý định muốn dời miếu này đi nơi khác sao cho có cuộc đất thoáng đãng hơn. Văn miếu này cũng là của Làng và của triều đình xứ Đàng Trong. Năm 1770, chúa Nguyễn Phúc Thuần, hiệu Khánh Phủ Đạo Nhân, cho dời Văn miếu về xã Long Hồ, huyện Hương Trà.

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016

MỆ NGOẠI

Viết về mệ ngoài của nhà văn Võ Hương An

          
Tôi không hiểu tại sao toàn thể anh chị em trong nhà đều gọi bà nội là bà nội mà lại gọi bà ngoại là mệ ngoại. Tôi cũng chưa hỏi ai trong nhà về việc này, và tôi tin rằng ngoài thầy mạ tôi, không anh chị nào trả lời được câu hỏi đó. Khi thầy mạ tôi còn sống, không chịu hỏi, nay ông bà đều đã xa chơi từ lâu, biết hỏi ai giờ, đành đoán là theo truyền thống của bên nội và bên ngoại mà gọi như thế.

Hồi còn bé, nhất là khi bắt đầu đi học, tôi không thích chữ mệ, vì khi nghe mấy đứa bạn cùng lớp gọi bà của chúng bằng bà trong khi tôi lại gọi bằng mệ, nghe “nhà quê” quá. Khi lớn lên, được gọi mệ, thấy thích hơn, gần gũi hơn, nhưng khi đó thì không còn mệ để mà gọi nữa, vì mệ đã mất từ năm tôi học Đệ Ngũ.

Mệ húy là Hồ Thị Thìn. Vào thế hệ của tôi, việc kiêng cữ tên của các bậc trưởng thượng trong gia đình là một tập tục phổ biến ở Huế, vậy mà tôi nhớ dường như trong nhà không ai kiêng tên của Mệ cả, thiệt bậy quá, mà mệ cũng chẳng trách móc chi. Bây giờ mà đi tìm “lý lịch trích ngang” của mệ nghe cũng khó. Chỉ biết rằng mệ vốn người làng Thanh Thủy ở An Cựu, đầu tiên về làm dâu nhà họ Đỗ ở làng Triều Sơn Đông, sinh được một con trai là cậu Đỗ Xuân Khôi, rồi ông ngoại họ Đỗ mất sớm. Hẳn là thời thanh xuân mệ cũng có chút nhan sắc, có nết hạnh, đảm đang, nghĩa là có tiếng tốt trong làng, nên sau khi góa chồng thì ông ngoại họ Lê đi cưới làm vợ thứ, sau sinh ra mạ tôi và cậu Út.

Mệ mất ngày 16 tháng 6 năm Ất Mùi (3-8-1955), đó là điều chúng tôi biết chắc chắn, nhưng ngày sinh thì chịu. Hồi còn nhỏ, nghe nói mệ sinh mạ tôi vào năm 28 tuổi, là năm Mậu Thân (1908), mệ lại thường kể chuyện bão năm Thìn ở Huế (11-9-1904, Giáp Thìn) làm bay cầu Trường Tiền và thổi người bay lên thấu đọt tre, tóc quấn vào ngọn tre vắt vẻo như ma treo cổ, thì đoán là mệ sinh đâu khoảng 1880, Canh Thìn. Điều này có lẽ đúng vì mệ húy là Thìn, lấy năm sinh làm tên là chuyện thông thường ở Việt Nam.

Cho tới khi mệ mất, tôi biết mệ có ba người em trai nhưng không nghe nói tới người em gái nào cả. Người em kế mệ là ông Thừa Nẫm, nhà ở Vạn Vạn, sau đó vì chiến tranh, phải dời nhà lên đình Dương Phẩm gần cung An Định. Khi ông Thừa còn ở Vạn Vạn thì tôi còn quá nhỏ, chưa có dịp đến đó nên chưa biết cái nhà ấy to lớn bề thế hay tầm thường, chứ cái nhà tạm ở đình Dương Phẩm thì tôi tới lui thường xuyên. Đó là một ngôi nhà tranh nhỏ ba gian, nền đất nhưng không mang vẻ lụp xụp nghèo nàn như mọi nhà tranh khác thường thấy ở Việt Nam. Trái lại, mỗi khi bước vào ngôi nhà tranh đó, ngồi uống nước nói chuyện thăm hỏi với ôn mụ Thừa tôi đều có cái cảm giác thoải mái êm ả dễ chịu. Nhà luôn luôn có vẻ sáng sủa, sạch sẽ và ngăn nắp, có lẽ nhờ có nhiều cửa sổ và không có trẻ con. Ngoài sân có bể cạn với hòn non bộ cùng vài chậu hoa kiểng, đủ cho ông Thừa đi ra đi vào săm soi, ngắt cái lá này, tỉa cái cành kia, tưới vài gáo nước, cho hết thì giờ, nếu không có bạn rủ đi đánh tài bàn hay đánh kiệu. Bên trên bể cạn là một giàn hoa thiên lý, mỗi bề chừng ba thước, bên dưới treo lủng lẳng mấy giò phong lan. Trong nhà ông chưng một hai món đồ cổ, vài bức tranh xưa và cây xanh, theo cung cách của mấy nhà nho, trông rất trang nhã. Tôi vẫn chịu nhất là cái gốc dành dành rất đẹp thả trong chiếc bát cổ vẽ men xanh, thường để trên cái kỷ đựng sách của ông. Gốc cây sù sì, có dáng đẹp, đâm lên những cành non lớn bé cao thấp khác nhau, trông mạnh mẽ và hài hòa. Tôi hỏi ông mua gốc cây dành dành đó ở đâu thì ông cười cười đáp: chán chi con, nó thường mọc bậy dọc bờ rào, chỉ có tốn công đi tìm, và đào năm bảy gốc mới được một gốc vừa ý.

Ông Thừa đẹp lão, râu ba chòm trắng như cước, lúc nào cũng thấy áo qụa trắng, quần dài trắng, quạt giấy phe phẩy, dáng dấp phong lưu, thật là trái ngược với mụ Thừa, xấu và thô kệch. Thiệt khó mà nghĩ đó là một cặp vợ chồng xứng đôi vừa lứa. Khi biết khôn, nghĩa là tới tuổi biết ve gái , tôi thường thắc mắc không biết cái gì đã gắn chặt ông Thừa và mụ Thừa. Chắc hồi trẻ mụ cũng có một cái duyên và nét đẹp nào đó nên mới quyến rũ được ông chứ. Cũng có thể cuộc hôn nhân ấy là do ông bà cố tôi đạo diễn và ép buộc, và về sau, khi ông bà cố đã qui tiên, ông Thừa có thể thấy vợ mình xấu và thô, cũng có mưu toan lẹo tẹo với bà khác đẹp hơn, nhưng vì mụ Thừa dữ như Bà Chằn lửa nên ông phải chịu phép. Tất cả chỉ là những giả thiết lảng vảng trong trí tôi mà không có gì thực chứng cả. Điều rõ ràng nhất là hai ông bà sống với nhau tới răng long đầu bạc, có ba trai một gái và tôi chưa hề nghe mệ ngoại tôi hay mạ tôi kể một tật xấu nào của hai ôn mụ cả.

Mỗi lần ông đến chơi, tới bữa cơm, tôi thường được mệ hay mạ sai đi mua rượu về cho ông uống để ngon cơm. Về sau này, khi quen biết nhiều bạn nhậu thuộc loại tửu nhập ngôn xuất và thường cho chó ăn chè, hoặc quên đường về, tôi lại phục cái nết uống rượu của ông Thừa. Ông uống một cách từ tốn và thưởng thức và khi xỉn thì lặng lẽ đi ngủ, luôn luôn êm ái nhẹ nhàng như chính con người của ông.

Người em trai thứ hai của mệ là một ông Tây lai mà mạ tôi gọi là “cậu Thị Răng”. Tôi đoán tên Tây của ông là Jean. Dường như ông Răng là con nuôi của ông Cố họ Hồ. Ông cao to như Tây và nét mặt giống Tây hơn Việt Nam, làm y tá ở Bệnh viện Huế, ngạch Tây, được đối hàm Nam triều là Thị giảng học sĩ nên bà con chòm xóm gọi là ông Thị. Lần đó, mệ tôi bị té từ cây ổi xuống đất, bể xương bánh chè và ông Thị từ bên cầu Kho Rèn đạp xe đến thăm chị. Đó là lần đầu tiên tôi được biết mệ tôi có một người em trai đặc biệt như thế.

Người em thứ ba của mệ là ông Đội Liêm. Ờ mà lạ thật, ông này là nhân viên của Công quản Đường Sắt Đông Dương - Sơ-manh đờ phe (Chemin de Fer), như ông thường nói một cách hãnh diện -chứ có đi lính đi tráng gì đâu mà gọi là ông Đội? Hay là ông làm đội trưởng của một toán gồm vài chục công nhân làm đường sắt? Nếu có ai nói ông Đội Liêm là em ruột của mụ Thừa thì tôi tin ngay. Ông người thô kệch, da ngăm ngăm đen, ít nói, có vẻ cục cằn chứ không phong lưu nho nhã như ông Thừa hoặc hoạt bát oai vệ như ông Thị. Thiệt ba người em của mệ không ai giống ai. Ông Đội Liêm khi nói chuyện về xe lửa thì trở thành một con người khác, trông linh hoạt hẳn lên. Theo ông thì không chi sướng hơn làm nhân viên Xe lửa. “Bộ tụi bây không nghe mấy bà mấy o nói Mã táng hàm rồng không bằng lấy chồng xe lửa à ?” Tôi hỏi tại sao thì ông say sưa giải thích:

-Nhân viên xe lửa và gia đình đi tàu không phải trả tiền. Vì rứa mà tau hay đưa mệ bây đi Phan Thiết thăm cậu bây trong đó, không tốn xu mô. Ông mô làm xe lửa mà có mụ vợ siêng năng thì tha hồ mà đi đây đi đó buôn bán, làm giàu. Biết tau làm xe lửa, mấy mụ đi buôn cứ theo ve tau hoài, mà tại mụ bây dữ quá chứ không thì tau cũng có bà hai rồi.

Cậu Bát Khôi là người con trai độc nhất của mệ vì cậu Út mất từ khi còn bé. Cậu làm việc ở Phan Thiết nên nhà tôi không thiếu sản phẩm miền biển của Phan Thiết, thuộc loại hảo hạng, do cậu gởi về cho. Hồi đó, nước mắm Phan Thiết thường chứa trong những hủ bằng sành, có dáng như hai cái bánh ú úp lại với nhau, có quai xách bện bằng lá buông, có nắp đậy khằn lại bằng hồ vôi. Chung quanh hè nhà tôi hồi đó thấy lăn lóc những chiếc hủ không, thỉnh thoảng chúng tôi lại giả bộ lỡ tay làm vỡ một cái, nhưng thật sự là rủ nhau lấy đá chọi vào như kiểu đánh bi. Cho đến ngày tôi lấy vợ, trong nhà vẫn còn hai món đặc biệt, đó là một chai muối sống với loại hột to nhất và một chai đựng nước mắm nhỉ thứ thiệt. Cả hai được mệ và mạ tôi giữ gìn cẩn thận để trở thành sản phẩm “lâu năm” dùng làm thuốc. Theo tin tưởng của mấy bà, muối sống và nước mắm nhỉ lâu năm là những vị thuốc hay. Nước muối lâu năm dùng để trị bịnh đỏ mắt và làm cho sáng mắt, còn nước mắm lâu năm thì trị bịnh nấc cụt và phỏng lửa. Những người bịnh nặng mà thêm chứng nấc cụt thì rất dễ chết. Lúc đó, chỉ cho uống nước mắm nhỉ lâu năm mới trị được thôi.

Tôi không hiểu tại sao mệ không ở với cậu mà lại ở với mạ tôi. Thỉnh thoảng mệ lại vào Phan Thiết ở thăm cậu tôi chừng nửa năm hay vài tháng rồi lại về Huế, mang theo nào khô cá, khô mực, nước mắm, rong mứt phơi khô v.v. cùng vô số chuyện Phan Thiết làm chúng tôi mê mẩn. Mệ kể về sông Lòng Sông, nước trong và cạn, cá lội từng bầy, muốn bắt không khó nhưng không ai thèm bắt vì tôm cá thiếu chi. Nghe có một dòng sông với nước trong và cạn thì tôi khoái vô cùng, tưởng tượng có thể bơi lội đùa chơi thoải mái mà khỏi phải sợ chết nước. Lại còn nhiều cá thì tha hồ mà câu mà bắt. Ôi, xứ sở chi mà thần tiên, có đâu như cái xứ Huế ni, đụng tới sông hồ là đã nghe nói chuyện coi chừng bị ma rà (ma gia) kéo cẳng xuống sông cho chết trôi, chết nước, còn cá thì câu cả ngày không được một con. Mệ kể về giống cây có gai dùng trồng làm hàng rào mà cũng là loại cây trị ma Hời. Ma Hời thuộc loại ma lai, ban ngày thì sinh hoạt bình thường như mọi người, nhưng khi đêm về, ma để cho cái mình nằm ngủ trên giường, rút cái đầu và bộ ruột lòng thòng ra khỏi mình rồi bay đi kiếm ăn. Biết ma lai thích ăn đồ dơ, vì vậy hễ phóng uế ngoài bãi cát xong, sau khi lấy chân lùa cát lấp đi, người ta còn phải bẻ một nhánh gai cắm xuống. Ma lai đánh hơi biết mục tiêu, khoái lắm, nhưng thấy cây gai thì rút lui ngay vì sợ vướng bộ đồ lòng, gở không ra, sẽ không về nhập xác được. Ai không biết cách đề phòng, chẳng may bị nó ăn phân thì sẽ ốm o gầy mòn, ba tháng mười ngày sau sẽ đứt ruột mà chết. Bọn nhỏ chúng tôi nghe vậy sợ co đầu rụt cổ, mừng xứ mình không có ma lai. Và những chuyện hoang đường như thế, không hiểu sao cứ ăn mãi vào đầu.

Tôi còn nhớ cái ngày mệ và mạ tôi nhận được điện tín cậu Bát Khôi qua đời, quả là một ngày tận thế. Hồi đó, người ta không gọi là điện tín, mà gọi là dây thép , nói theo tiếng Tây là tê-lê-gờ-ram (télégramme). Khi nghe tiếng khóc ré lên của mệ và mạ, tôi ở ngoài vườn, bỏ chơi chạy vào xem thử việc gì xảy ra. Thấy chị tôi đứng đó, tôi hỏi: chuyện chi rứa? Chị chỉ tờ giấy màu xanh mạ tôi đang cầm nơi tay và nói: có dây thép nói cậu Bát Khôi mất rồi. Cái hình ảnh kêu khóc đau khổ của mệ và mạ tôi do tờ giấy màu xanh kia đem lại đã gây cho tôi một ấn tượng xấu với hai chữ “dây thép”. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy thương mệ vô cùng bởi niềm đau đó hẳn phải mênh mông và sâu xa lắm. Rõ ràng là đời mệ không mấy lúc được vui, chỉ gặp toàn chuyện dở dang, chuyện nửa đường gãy gánh. . . Rồi chiến tranh xảy ra, mọi liên lạc gián đoạn trong nhiều năm. Khi anh tôi sực nhớ ra, về Phan Thiết để tìm lại gia đình cậu thì không còn một manh mối nào cả. Có lẽ tại chúng tôi biết rất ít về cậu, và đến khi biết khôn để có thể thu thập tin tức thì không còn biết hỏi ai nữa, tất cả đều đi vào quá khứ không dấu vết. Bể dâu đâu phải là chữ nghĩa của văn chương thi phú. Bể dâu hiển hiện ngay trong chính cuộc đời mình và thân thích mình.

Khi tôi bắt đầu biết nhận thức chung quanh thì mệ tôi đã già, mặt mày tay chân đều đã nhăn nheo. Khi mệ ngồi yên ăn trầu, tôi thường sà vào lòng mệ, đưa tay nắm lấy những nếp nhăn ở dưới cổ, vừa rung rung vừa nói “Mệ hát Tây đi”. Nếu không được vui mệ sẽ bảo thôi đừng chơi nghịch, để mệ yên. Còn gặp lúc vui, mệ sẽ há miệng ra phát thành tiếng a.. a... ô...ô. Với nhịp rung của tay tôi, những âm thanh đó sẽ rung theo, như mấy ông Tây bà đầm hát rung giọng mà tôi được nghe trộm qua máy hát của một ông nhà giàu trong xóm.

Tuổi thơ của anh em chúng tôi gắn bó với mệ hơn mạ, nhất là riêng đối với tôi. Ăn cũng mệ, ngủ cũng mệ, chơi cũng mệ, đứt tay chảy máu cũng mệ, ỉa không ra cũng mệ. Ngó bộ như cả ngày kêu “mệ ơi” nhiều hơn “mạ ơi”. Tôi thấy mệ chỉ thua mạ có một chuyện, ấy là không hát ru em ( ru con ) được. Tôi chưa nghe mệ hát ru em bao giờ, chỉ nghe mạ tôi hát, và phải công nhận giọng mạ tôi hát rất hay. Những câu ca dao mà tôi thuộc lòng từ hồi chưa bước chân tới trường là do tôi hát theo mạ tôi khi nghe bà ru mấy đứa em. Có lẽ mệ già rồi, không còn hơi nghỉn đâu nữa để hò với hát. Mệ không hát nhưng mệ kể chuyện đời xưa thì mê lắm.

Mùa Đông xứ Huế, có những ngày mưa dầm kèm theo gió bấc lạnh cóng. Bọn nhỏ chúng tôi không ra ngoài chơi đùa được thì bày trò để chơi trong nhà hoặc quanh quẩn bên mệ nghe kể chuyện đời xưa. Mệ ngồi xếp bằng, đầu trùm khăn, hai tay đặt trên lồng ấp rỉ rả kể đủ thứ chuyện, nào chuyện Tấm Cám, chuyện Thạch Sanh Lý Thông, chuyện Thất thủ kinh đô v.v. Bên cạnh những chuyện thuộc loại cổ tích đó, mệ còn kể những chuyện khác nữa, có tính cách thời sự hơn, chẳng hạn chuyện Cô Thông Tằm, chuyện Đức Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) khi còn hàn vi, là chị Út ở cung An Định, chuyện bão năm Thìn, chuyện vua Khải Định khi đang còn là ông Hoàng đã sợ vua Thành Thái như thế nào, chuyện người bị ma thu , chuyện thầy phù thủy cao tay ấn có tài biến những con môi thành âm binh để sai đi làm việc v.v. Bây giờ nghĩ lại, cũng nhờ những chuyện không có tính cách sàng lọc như thế mà ngày nay tôi có được những chuyện là lạ để kể lại cho bà con nghe chơi.

Mệ thường gọi anh chị em chúng tôi là “bầy quân”. Bấy quân ăn như cọp đói,như ăn cướp; bầy quân phá như giặc; bầy quân làm biếng v.v. Tất cả áo quần mặc ở nhà của bầy quân chúng tôi đều do một tay mệ may cả, dĩ nhiên là may tay. Phải đến năm học lớp Nhất tôi mới được cái sung sướng lần đầu tiên được mặc quần soọc (short) và áo sơ-mi cổ bẻ do thợ may may bằng máy đàng hoàng, chứ còn trước đó thì toàn là quần đùi (quần cụt) với áo cổ kiềng do mệ tôi sản xuất! Sở dĩ tôi sớm biết những dụng cụ và những từ ngữ chuyên môn về nghề may cũng là do quanh quẩn bên mệ. Nào thước, nào vạch, nào kéo, nào đê. Rồi tà, vạt, bâu, lai, vạt hò, cổ kiềng, cổ đứng, cẳng què, đáy giữa v.v. Nhờ thế mà vào năm lớp Nhì, khi tả người thợ may, thầy giáo đã cho bài luận của tôi tám điểm rưỡi với lời khen. Có lẽ thầy nghĩ là tôi con nhà thợ may nên mới rành những từ nghề nghiệp như thế. Khi mệ may, chúng tôi thường phải có đứa chơi quanh quẩn gần đó để xỏ kim cho mệ. Tội nghiệp, cái thuở đó kiếng lão còn hiếm, làm chi có kiếng cho mệ thấy đường xâu kim! Bây giờ thì con có thể sắm cho mệ mấy cái kiếng lão cũng được nhưng mệ đâu có cần kiếng nữa.

Mệ đúng là thầy thuốc gia đình, là trưởng phòng cấp cứu. Mỗi lần chúng tôi dùng dao để cắt gọt một cái gì đó mà lỡ bị đứt tay chảy máu thì la lên là có mệ tới cấp cứu ngay. Thuốc cầm máu của mệ là bồ hóng trong bếp trộn với vôi ăn trầu và thuốc lá, đắp vào vết cắt, rát ơi là rát, xong lấy giẻ băng lại, hai ba hôm thì vết thương lành. Bác sĩ và y tá ngày nay nghe nói thế thì le lưỡi nhưng tôi thấy chưa bị nhiễm trùng lần nào, thậm chí, sau khi biết toa thuốc đó của mệ, chúng tôi có thể tự làm lấy khi cần! Ngón tay giữa trên bàn tay phải của tôi có cái móng tay chẳng giống ai, vì đó là một cái móng tay có tật. Lúc đó tôi chừng tám, chín tưổi. Vào một đêm trăng sáng ngày hè, anh em trong nhà và lũ bạn hàng xóm cùng trang lứa rủ nhau chơi đuổi bắt và trốn tìm, đang khi chạy trốn, tôi vấp té, và một hòn gạch đập vào ngón tay, làm bay mất móng, máu chảy như cổ vịt bị cắt tiết. Mệ tôi đã cấp cứu theo kiểu của mệ và hậu quả là cái móng tay dị dạng ra đời!

Trong vườn nhà tôi có trồng rất nhiều ổi. Nhiều khi thấy ổi chín ngon quá , ăn quên thôi. Hậu quả là ị không ra, ngó như đang bị một cái nút chai to lắm đóng chặt lổ đít. Mỗi lần như thế, lại vừa khóc vừa kêu: mệ ơi! Mệ lên tiếng: ờ để đó, mệ chữa cho. Ai biểu dộng ổi vô cho lắm rồi chừ ĩa không ra, cho mi chết. Mắng thì mắng vậy nhưng mệ vội vã bỏ công việc đang làm, lấy con dao cau cắt một bẹ môn ngọt, dứt ra một đoạn ngắn bằng gang tay. Rồi mệ lại lấy xà phòng hòa thành nước, xong kêu: lại đây, chổng khu lên cho mệ làm thuốc. Mệ lấy bẹ môn chấm nước xà phòng ngoáy ngoáy vào hậu môn, rồi bảo rặn đi, làm vài lần như thế thì cái nút chai bật ra, và tôi thoát nạn. Ngày nay mới có những tọa dược glycerine giúp cho việc lưu thông được trơn tru dễ dàng, vậy mà hồi đó mệ tôi đã nghĩ được phương pháp bẹ môn với xà phòng, kể cũng thông minh thiệt.

Sau 1975, khi ở trên rừng trên núi, nhiều phen tôi được no cũng nhờ mệ. Ở tù CS thì ăn đói là chuyện thường ngày, nên anh nào cũng lo “cải thiện” nghĩa là kiếm cái gì đó để tộng vào mồm, để an ủi cái thao thức bào bọt của bao tử. Cây gì ăn được là ăn (ngoại trừ cây súng) con gì xực được là xực (ngoại trừ con ốc con vít và con bù-lon), và các bạn tù rất ngạc nhiên khi thấy tôi rất thiện nghệ trong việc nhận ra những loại rau hoang mọc đâu đó trên đường đi, bên hè nhà, hay trên đám rẫy hoang. Nào rau rìu, rau éo, rau trai, rau sam. rau má. Nào rau bát bát, rau bù ngót, rau bạc đầu, rau mặt trăng, rau dền đất, rau dền gai, rau chân vịt v.v và v.v. Đó là nhờ những lần thơ thẩn đi theo mệ khi mệ rảo trong vườn hái rau để nấu thành nồi canh tập tàng rất ngọt nước. Cây chi ri mệ? -À, cây rau sam. Rau sam ăn mát lắm con. Cây chi ri mệ? - À, cây bạc đầu. Cây bạc đầu có ăn được không mệ? -Được chớ, nhưng vì cái mùi nó có người không ưa nên có người kêu là cây cỏ hôi, và vì rứa ít người ăn. Cả mệ và tôi đâu có biết rằng những bài học đơn sơ trong vườn ngày ấy mấy chục năm sau lại giúp cho tôi có những ngày được no bụng nhờ kiếm thêm mớ rau trời.

Thầy tôi rất thương mệ. Tôi nghe ông gọi mệ bằng mợ. Thỉnh thoảng ông lại cho mệ một số tiền nhỏ để tiêu vặt. Tôi biết được là nhờ một hôm chỉ có một mình mệ và tôi ở nhà, mệ cho tôi mấy cái kẹo bạc hà nhỏ như chiếc đũa và dài bằng ngón tay út, gói trong giấy bóng, là thứ kẹo tôi rất mê. Ngạc nhiên, tôi hỏi: kẹo ni mệ kiếm mô ra? Mệ nói nho nhỏ: thầy mi mới cho mệ tiền, mệ biết con thèm kẹo bạc hà nên mệ mua cho. Đừng có mét với mạ nghe không. Tôi nghe thế, tự nhiên cao hứng trả lời: để ít bữa con lớn, đi làm có tiền, cho mệ mỗi tháng năm chục đồng để mệ tiêu cho sướng. Mệ cười hiền: tổ cha mi, nói nghe giỏi dữ. Sợ e mười voi không có chén nước xáo. Vài tháng sau, cậu tôi từ quê lên thăm. Trong khi nói chuyện, thấy tôi đứng xớ rớ gần đó, mệ chỉ tôi và khoe với cậu rằng: thằng ni có tình với mệ lắm. Mới chừng đó mà hắn hứa khi mô đi làm sẽ cho mệ mỗi tháng năm chục bạc để tiêu. Không biết có sống tới đó để hưởng lộc của cháu hay không chứ nghe hắn nói rứa mình cũng mát ruột. Tôi thấy tôi xạo quá, và đúng như mệ nói, mười voi không có chén nước xáo, mệ tin chi được ba thằng cháu ngoại, cái thứ cháu bà nuôi cho uổng công bà, về sau mày lớn tìm cha mày về.

Mệ là người khéo tay . Với con dao và bụi hóp sau nhà, bà chế nào kèn lá nón để giả làm tiếng gà gáy hay kèn bầu đám ma, nào súng bắn bằng hột cây bời lời, nào quạt nước, nào chong chóng, cho anh em chúng tôi chơi. Bằng một con rựa cùn gãy đôi và mấy cục gạch vỡ, bà ngồi tỉ mỉ đẽo gọt thành những hòn bi để cho lũ cháu chơi đánh bi. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy tôi đã học được rất nhiều điều từ mệ, do cái tật tò mò và hay bắt chước. Chẳng hạn, ngoài mấy thứ đồ chơi đó, tôi có thể bắt chước mệ để làm quạt kè, chổi cau v.v. Chặt một tàu lá kè, kiếm chỗ đất bằng phẳng trải xuống, lấy hai viên gạch đè lên, phơi khô. Khi lá đã khô, dùng kéo vanh tròn rồi dùng dao chẽ đôi, sẽ có hai cái quạt, vừa nhẹ, vừa mát. Mệ còn dùng vải viền quanh dể quạt được bền hơn và tránh được cái cạnh sắc của lá khô có thể làm sướt da chảy máu.

Một tàu cau trong vườn rụng xuống là một nguồn vật liệu để mệ chế biến đồ dùng. Cái mo cau được cắt riêng ra, phơi khô, để dành. Từ mo cau, mệ có thể bới cơm, chằm làm cái gàu múc nước giếng, làm cái mo đài cho chó ăn cơm, hay cắt ra làm cái nắp cài kín mấy hũ dưa hũ mắm, chèn mái nhà để tạm thời tránh dột, làm thành cái quạt v.v. Với cái tàu cau, mệ dùng con dao nhíp tước bỏ phần lá (để dành nhen lửa), chỉ chừa lại cái sống lá. Mệ bó năm cái tàu cau như thế thành một cái chổi, quét sân quét vườn rất sạch, khỏi tốn tiền mua chổi rành.

Tôi biết trồng cây, làm vườn cũng là nhờ đi theo để mệ sai vặt khi mệ làm vườn. Tháng Chạp, khi hết mưa lớn, mệ thuê người cuốc đất, đánh vồng cho mệ vãi cải cay, cải tàng ô. Cải lớn, mệ đem ra cấy, rồi trồng cà trồng ớt. Nơi này là luống mồng tơi, nơi kia là đám môn ngọt và môn bạc hà. Trong vườn, có một mảnh đất vuông, mỗi cạnh chừng ba thước, là vườn thuốc Nam của mệ. Nào tía tô, rau tờn, sả, ích mẫu, kinh giới, gừng v.v. Trong vườn, mẹ tôi lại có thuê người ta trồng mấy cây chanh và mấy cây bưởi đỏ, thanh trà. Nhờ vậy, khi nào cần một nồi nước xông để giải cảm hay cần các thứ lá thơm để luộc một nồi ốc bưu hay ốc hút, mệ chỉ cần bước chân ra vườn một loáng là có đủ thứ trong tay, khỏi cần chạy xin hàng xóm.

Trong ngôi vườn của thầy mạ tôi lúc bấy giờ có trồng chừng hai chục cây cau và bốn năm bụi trầu không leo quanh mấy cây mứt. Khi mệ và mạ mất đi, những cây này cũng theo gót vĩnh viễn giã từ. Cả mệ và mạ đều nhuộm răng đen và ăn cau trầu suốt ngày. Cau trầu trồng trong vườn, trước hết là để cho các bà dùng, thừa ra thì mới đem bán, nếu gặp mùa cau trúng, giá cau rẻ, các bà đem phơi khô, để dùng trong mùa mưa. Tôi biết róc cau, bửa cau, phơi cau , têm trầu, ăn cau trầu, cũng là do cái tật tò mò và hay bắt chước như khỉ. Bạn ăn cau trầu thân thiết của mệ là bà Chưởng hàng xóm. Bà này người Quảng Ngãi, thuộc loại cao thủ cau trầu. Bà không biết hút thuốc lá nhưng trong túi bà luôn luôn có hai món, một cái hộp dẹp bằng thiếc đựng thuốc lá cẩm lệ, dùng để ăn ghém với cau trầu, và một cái hộp nhỏ bằng bạc, hình thuẫn, đựng vôi, để ăn chêm khi gặp miếng trầu nhạt. Mệ tôi thì đơn giản hơn, bà không ăn ghém thuốc lá, chỉ ăn ghém bằng hột mây hay vỏ cây chay. Có một lần theo mệ qua nhà bà Chưởng chơi, tôi thấy bà ta mời trầu, mệ đón lấy miếng cau bỏ vào miệng trước, nhưng miếng trầu thì mệ mở ra, liếc một cái, rồi mới cuộn lại, ăn tiếp. Khi về nhà, không nén được tò mò, tôi hỏi:

- Tại răng bác Chưởng mời trầu mà mệ lại mở miếng trầu ra rồi mới ăn?
- Cái đó là do ông bà mình đã dặn rồi:

Ăn trầu thì phải mở ra,
Một là thuốc độc, hai là mặn vôi.

Nếu là người lạ, chưa biết bụng dạ người ta ra răng, thì mình cũng phải mở miếng trầu ra coi thử trong đó có chi độc hại hay không. Mà dù quen hay lạ thì cũng phải mở trầu ra coi vôi nhiều hay ít. Có nhiều người têm trầu mặn (nhiều) vôi quá, mình ăn không quen sẽ bị phỏng miệng. Mệ dặn thì con phải nhớ, nghe không?

Chừng mười một mười hai tuổi thì tôi đã trèo cây như khỉ. Lúc đó thì mệ khỏi tốn tiền thuê người lột cau . Với con dao nhíp ngậm ngang miệng và cái nài bằng bẹ chuối khô tròng ở hai bàn chân, tôi leo lên ngọn cau trong nháy mắt. Rứt một trái cau ném xuống cho mệ bửa ra thử xem dầy hay non. Nếu thấy được thì mệ sẽ ra lệnh “cau dầy rồi, lột đi con”, thế là tôi lấy con dao nhíp ra, cắt hai bên mép của buồng cau để giật nó ra, xong choàng buồng cau qua bắp vế và tụt xuống. Về sau, khi đã biết nhận định thế nào là cau dầy, cau non, cau tra (già),tôi thử cau ngay trên cây và quyết định lột hay không, khỏi cần chờ lệnh của mệ nữa. Đến lúc đó thì đã đạt đến trình độ đi lột cau thuê và hái ổi hái xoài thuê cho nhà bà Chưởng hàng xóm rồi.

Khi còn ở quê nhà, mỗi lần Tết đến, thấy vợ tôi ngồi rim mứt, tôi lại nhớ đến thau mứt thập cẩm của mệ vào những ngày thơ ấu. Vì bầy quân ăn như ăn cướp, không có mứt bánh nào chịu cho thấu, nên bên cạnh những món mứt cao cấp dành đãi khách, thế nào mệ tôi cũng làm một thau mứt thập cẩm, nặng về lượng hơn phẩm. Thành phần của thau mứt cho bầy quân gồm có khoai lang cắt thành thỏi (như French Fried), sắn dây Quảng Trị xắt lát vuông, gừng non và dừa già xắt lát mỏng, và đậu phụng rang. Tất cả được cho vào một cái thau lớn rim với đường cát vàng. Khi chín tới, hổn hợp này tạo thành một hương vị rất hấp dẫn. Trong khi các loại mứt đãi khách được cho vào tìm vào thẩu thủy tinh có nắp đậy đẹp đẽ thì loại mứt thập cẩm của bầy quân được cho vào thùng thiếc vốn là thùng đựng trà, nhưng không sao, miễn số lượng cho nhiều là bầy quân hoan nghênh.

Tôi không biết mệ mất vì bịnh gì. Khi mệ nằm bịnh chừng nửa tháng thì cậu tôi (anh của mạ, con của mệ ngoại đích) từ quê lên thăm. Ông bàn với mạ tôi sao đó rồi thuê xe kéo chở mệ ra Bến Tượng ở chân cầu Đông Ba, từ đó, lại thuê đò dọc đưa mệ về nhà cậu để mợ và chị Hiền săn sóc. Tôi hỏi thì mạ tôi nói : cậu nói mệ gần tới ngày rồi, đem mệ về làng để mệ trăm tuổi thì tiện làm đám, mà ý mệ cũng thích rứa. Tôi không thấy cái buồn vì sắp sửa vĩnh viễn xa mệ, chỉ thấy cái vui cuối tuần được theo chị tôi về làng thăm mệ để được ăn bắp luộc và đậu phụng luộc của mợ. Rồi mệ ra đi êm ái như đi vào giấc ngủ. Khi đó thì tôi đang leo lên cây ổi trước sân nhà cậu để hái mấy trái chín ngon mắt không chịu được. Nghe tiếng khóc của mạ và mợ, tôi tụt xuống chạy vào thì nghe mợ nói : mệ đi rồi. Mạ tôi dốc toàn lực ra làm cho mệ một cái đám được làng xóm khen là to. Về sau, tôi mới biết ở thôn quê, tiêu chuẩn để đánh giá một cái đám ma to hay nhỏ là ở số lượng heo bò hy sinh. Hình như để đãi khách, mạ tôi phải làm đến hai heo. Về sau, qua những câu chuyện mà tôi nghe lóm được của bà con chòm xóm, thì cái đám của mệ đã đem lại tiếng tốt cho mạ tôi và cậu mợ tôi. Người ta khen mạ tôi là con gái lo cho mẹ giỏi có thua chi trai. Còn họ khen cậu mợ tôi đã săn sóc lo lắng cho mệ tôi chẳng khác chi mẹ ruột. Tôi tin những lời khen đó tới tai mệ tôi và hẳn bà cũng vui lòng nơi chín suối.

Đã già nửa thế kỷ trôi qua, nấm mồ của mệ nằm ngoài đồng Triều Sơn đã bao lần ngâm nước lụt và cỏ trên mộ đã thay bao lứa. Lũ cháu ngoại của mệ bây giờ cũng đã tới cái tuổi sắp hàng để chờ Thiên Tào gọi tên về gặp mệ. Dầu sao thì trước khi được điểm danh, cả mấy anh chị em đều vui vì đã lo được cho mệ một nơi an nghỉ tốt đẹp khang trang, và riêng tôi, chuộc được cái tội nói xạo cho mệ năm chục đồng mỗi tháng để tiêu vặt.


Võ Hương-An
San Jose, 7-03

Thương quá Cồn ơi ( Cồn Lớn Hương Vinh)


Cồn đất nổi lên giữa dòng sông Hương đi qua xã Hương Vinh (Hương Trà) hình thành nên những bãi bồi xanh tốt. Những năm trở lại đây do tác động của dòng chảy và nạn khai thác cát sạn, nhiều diện tích đất tại cồn lớn bị sạt lở nghiêm trọng.

Người dân mất đất sản xuất
Xã Hương Vinh có hai cồn nổi lên giữa sông tạo nên vùng có cảnh quang đẹp thuận lợi để trồng các loại hoa màu, có nhiều tiềm năng phát triển các loại hình dịch vụ. Trong đó, cồn bé có diện tích khoảng 5 ha, cồn lớn có chừng 22 ha. Đặc biệt, cồn có độ cao gần 1,5m đến 2m so với mặt nước nên có thể canh tác quanh năm.
Cồn Lớn bị sạt lở

Những năm trở lại đây, tình trạng khai thác cát sạn gần khu vực cồn gia tăng gây sạt lở nhiều diện tích cồn đất. Dẫn chúng tôi ra thăm cồn lớn, nhìn từng miếng đất rơi xuống sông, ông Đỗ Nhật, người dân thôn Triều Sơn Nam không giấu được sự bất bình: Nhờ hai cồn đất này mà người dân quê chúng tôi mới có đất canh tác. Những năm trở lại đây hơn 5 ha đất bị hà bá nuốt mất mà nguyên nhân là do tình trạng khai thác cát sạn. Vừa nói anh vừa đưa tay chỉ cho chúng tôi thấy đám lục bình cách thuyền chừng 200m: “Đó là điểm mà trước đây đặt một miếu thờ nhưng giờ cái miếu đó đã bị cuốn trôi mất”. Rồi ông đưa tay chỉ về phía ngôi nhà bằng tôn cách khoảng 250m: “Ngày xưa đó là điểm bắt đầu của cồn, nhưng mấy năm nay sạt lở cuốn mất gần 250m chiều dài và 200 mét chiều ngang”.
Nhiều hộ dân sống gần khu vực cồn này cho biết: Gần đây, số lượng ghe khai thác cát sạn tập trung ở khu vực này rất đông. Hầu như thời gian nào cũng thấy tàu khai thác cát sạn hoạt động. Đặc biệt, vào các thời điểm từ 23h đến 4h sáng số lượng tàu thuyền khai thác càng tập trung đông hơn, lúc đông nhất có đến 7 thuyền cùng khai thác. Đêm nào cũng nghe tiếng máy nổ inh tai. Hầu hết những tàu khai thác cát này sử dụng tàu hút có sức chứa hàng trăm m3 với vòi hút vươn xa. Những vòi hút này cắm sâu trực tiếp xuống phía dưới cồn đất nên khi máy hút cát hoạt động sẽ làm sạt lở một khối lượng đất cát tương đương với số lượng cát khai thác. Chỉ sau một đêm mảnh đất canh tác của nhiều người dân bị “hà bá” nuốt mất.
Chính quyền cũng bó tay
Để đối phó với tình hình khai thác cát sạn chính quyền xã Hương Vinh thành lập đội tự quản thuộc thôn Triều Sơn Nam với 10 thành viên, được trang bị ghe nhôm và xuồng máy. Nhưng chỉ sau 20 ngày đi vào hoạt động lực lượng tự quản này phải giải tán do không đủ sức đối phó với “sa tặc”.
Anh Đỗ Nhật, đội trưởng đội tự quản tâm sự: Những ngày đầu mới thành lập anh em hăng hái lắm, ngày nào cũng xuất quân vài lần để trấn áp bọn khai thác cát sạn, bắt và xử lý vi phạm một số tàu thuyền. Được vài hôm, bọn “sa tặc” bắt đầu có những hành động chống trả nên nhiều anh em thấy nản không còn muốn tham gia. Điều quan trọng những đối tượng khai thác cát sạn thường sử dụng xuồng máy có công suất lớn nên rất khó trong vấn đề truy đuổi. Bên cạnh đó, do hầu hết anh em trong đội đều có nhà ở sát mép sông nên sợ bị trả thù, không còn mặn mà với công tác chống lại sa tặc. Trước đó, gia đình anh Nhật có 5 sào đất nông nghiệp tại cồn lớn, nhưng do tình trạng khai thác cát làm sạt lở mảnh đất của gia đình anh. Nguồn thu nhập 25 triệu đồng mỗi năm từ 5 sào ruộng của anh vì vậy cũng biến mất.
Chính quyền địa phương cũng tỏ ra khá bất lực trước tình trạng khai thác cát sạn diễn ra trên địa bàn. Ông Nguyễn Văn Bổn, Chủ tịch UBND xã Hương Vinh, cho biết: Thời gian qua, tình trạng khai thác cát sạn có những diễn biến phức tạp gây sạt lở nhiều diện tích canh tác nông nghiệp tại cồn lớn. Để đối phó với tình trạng trên, chính quyền xã có quyết định thành lập đội tự quản nhằm chấn chỉnh lại tình trạng trên, đồng thời phối hợp với công an xã, công an thị xã và cảnh sát môi trường công an tỉnh tiến hành nhiều đợt truy quét nhưng sau khi lực lượng này đi các đối tượng khai thác lại tiếp tục công việc. Đặc biệt, các thuyền khai thác cát sạn thường tiến hành khai thác vào thời điểm đêm tối nên rất khó khăn trong công tác chỉ huy truy quét. Chưa kể các đối tượng này rất manh động sẵn sàng chống trả khi bị truy quét.
Không chỉ vào thời điểm đêm tối mà nhiều thời điểm khác vẫn có khá nhiều tàu thuyền khai thác ở gần khu vực cồn. Để ngăn chặn tình trạng khai thác cát sạn chính quyền địa phương cần có sự phối hợp với lực lượng liên quan nhằm ngăn chặn và xử lý nặng những đối tượng vi phạm và cố tình chống trả. Đồng thời, cần có những chính sách hỗ trợ đội lực lượng tự quản về nhân lực, vật lực để lực lượng này có thể làm hết sức mình chống lại “sa tặc”.
Theo Báo Thừa Thiên Huế

Làng Triều Sơn Đông - Hương Vinh (Quê hương tôi)


Con dân làng Triều Sơn Đông dù có đi đâu cũng luôn hướng về quê hương, luôn nhớ về cây đa, bến nước, mái đình. Cảnh vật đó đã gắn bó với tuổi thơ, từ những ngày còn cắp sách đến trường, những buổi sáng theo mẹ đi chợ. 

Đình làng Triều Sơn Đông
Bến nước trước đình làng

Cây bồ đề soi bóng xuống dòng sông Hương
Bầy trâu trên đồng làng Hạ Đạt
Hói Hà Giang

Tôi vác lúa giúp ba

Máy gặt của HTX

Cơ giới hóa nông nghiệp giúp nông dân đỡ khổ

Em trai tôi

Cầu ni quên tên rồi



                                                                                  Trần Trung - Hè 2016






Chợ Làng Triều Sơn đầu năm 2014


TPO - Sáng mùng 2 tết, chợ làng Triều Sơn Đông (xã Hương Vinh, Hương Trà, Thừa Thiên Huế) bắt đầu họp buổi đầu tiên. Chợ khá đặc biệt, bởi trước chợ là đình làng, sau lưng là bến nước. Người bán và người mua đều là người dân trong làng, xã. Chợ Triều Sơn còn được gọi là chợ Chồm Hỗm, vì người bán và người mua đều không có bàn ghế để ngồi mà toàn là ngồi chồm hỗm để mua bán và trả giá.
Description: http://images.tienphong.vn/Uploaded/phanyen/2014_02_01/1%20(Copy)_XJQM.JPG?w=440

Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 1
Đầu năm chợ quê khá vắng vẻ so với ngày thường
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 2
Đầu năm thong thả nên nhiều người dẫn theo cả con nhỏ đi chợ
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 3
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 4
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 5
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 6
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 7
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 8
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 9
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 10
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 11
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 12
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 13
Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 14

Description: Chợ làng đầu năm bên bến nước  - ảnh 16

Theo Tiền Phong

Cái duyên của đôi cồn ( Cồn Lớn và Cồn Don)

        Hiếm có là trường hợp của cồn Nổi hay còn có tên gọi là cồn Bút. Đọc những dòng sử cũ thấy ghi, cồn Nổi xuất hiện ở sông Hương trước cảng Thanh Hà nên cuối thời Tây Sơn, cư dân buôn bán ở cảng Thanh Hà phải chuyển dần về phía chợ Dinh và Bao Vinh. Và rồi, nếu sự xuất hiện của cồn Bút là tác nhân địa lý trực tiếp đánh quỵ khu thương mại sầm uất bậc nhất bên cạnh trung tâm chính trị Phú Xuân thì Bao Vinh đón lấy cơ hội để hội tụ doanh nhân để trở thành khu thương mại lớn nhất của đất kinh kỳ vào thế kỷ 19. Nhớ lại mô tả của Thuyền trưởng D. Rhins vào năm 1876: “Khi thuyền đi qua trước mặt Thanh Hà mà không hề chú ý đến nó, đến khi đi qua cồn Nổi sông Hương, mới chú ý đến cảnh nhộn nhịp của Bao Vinh mà ông lầm tưởng là Mang Cá” (thời thịnh trị, trước khi bị tàn phá bởi biến cố 1885).
Sông Hương tự hào với “Hữu Bạch Hổ” và “Tả Thanh Long”, tạo nên thế phong thủy tuyệt vời cho kinh thành Huế. Bạch Hổ là cồn Dã Viên, còn Thanh Long là cồn Hến. Cả hai đều nổi tiếng và sự tồn tại của hai cồn lớn này như một mặc định cho Cố đô từ khi vùng đất này trở thành máu thịt của nước Việt. Nó khác với cồn Nổi hay cồn Bút, là hệ quả về sự biến động của dòng Hương kéo theo cả những biến đổi xã hội. Lịch sử mất đi một phố hội Thanh Hà và thay vào đó là Bao Vinh sau một thời kỳ phát triển cũng sớm tàn lụi.
Một góc cồn Bút. Ảnh: Hiền An
Cũng vì cái nhìn thật khác nhau nên đã có nhiều tên gọi về mô đất nhô lên giữa dòng Hương nơi miệt Hương Vinh. Sách xưa gọi nôm na là cồn Nổi, lại chú thích thêm cồn nổi Hương Vinh hay Thanh Hà. Nay về tận nơi, cứ nghe bà con bảo rằng cồn Lớn, cồn Nhỏ thân thương như cách gọi cu anh, cu em trong gia đình. Cồn Lớn chừng 22 ha, còn cồn Nhỏ cũng khoảng 5 ha, cả hai có độ cao từ 1,5 đến 2 mét so với mặt nước sông. Cũng còn cách gọi phổ biến là cồn Bút hay Bút Sa. Người dân trong vùng tin rằng sự xuất hiện của cồn Nổi trên sông Hương này là một điềm báo về ra đời của người tài đỗ đạt cao trong vùng. Mà quả vậy, con người đó, sau này được xác định rõ là ông quan Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành dưới triều Nguyễn, người con của làng Minh Hương, ven dòng Hương Giang.  
Mới đây về làng Thanh Tiên, từ phía bến nước, nơi nhà của họa sĩ Thân Văn Huy, ngước nhìn lên phía Thanh Hà – Bao Vinh, tôi bắt gặp sừng sững hình ảnh cồn đất nổi trên sông mang một vẻ đẹp bí huyền, như một điểm nhấn đầy ấn tượng. Cũng mới đây, tôi có dịp về Hương Vinh chèo đò ra cồn Lớn, cồn Nhỏ. Đến tận nơi, leo lên cồn nhìn bãi bồi xanh tốt, rồi hướng tầm mắt ra xung quanh mới cảm nhận hết vẻ đẹp hoang sơ và mộc mạc như còn lại trên dòng sông huyền thoại này. Thấp thoáng ven sông là những phố thị Thanh Hà, Bao Vinh xưa; là những làng cổ Lại Ân, Thanh Tiên, Thủy Tú… Không xa về phía hạ lưu là ngã ba Sình. Ngược dòng Hương Giang là kinh thành Huế, nơi ấy không xa. Một vị thế đắc địa cho sự phát triển du lịch.
Cả hàng trăm năm có mặt, cồn Lớn và cồn Nhỏ đã là máu thịt của huyền thoại sông Hương. Đất bãi bồi màu mỡ trở thành những bãi ngô, bãi rau ngút ngàn xanh rì. Và rồi, ngồi với những người dân Hương Vinh, nghe họ kể chuyện về đôi cồn lạ kỳ kia, tôi như đọc được nỗi lo, sợ một ngày nào đó cồn Lớn, cồn Nhỏ sẽ mất đi, cũng bất ngờ như khi nó xuất hiện. Lần này còn có lý do chính bởi con người với những hoạt động phản quy luật như việc khai thác ồ ạt cát sạn trên sông Hương, gây nên tình trạng sạt lở, cứ ngày càng dữ dằn hơn. Nghe chuyện để rồi nhớ lại câu ca xưa: “Bao Vinh cao bọc, hẵm bờ/ Ghe mành lui tới, mẹ nhờ duyên con”. Ngẫm nghĩ mới hay và thấm thía, thì ra đôi cồn lớn nhỏ ở Hương Vinh đã là cái duyên dành cho con sông Hương và cho Huế mình. Nó cần phải được giữ gìn và bảo lưu.
Theo Báo Thừa Thiên Huế

Làng Triều Sơn Nam và Triều Sơn Đông Hương Vinh


           
 
Đình Triều Sơn
Làng Triều Sơn Nam và Triều Sơn Đông thực ra là hai giáp trong cùng một làng, vì cư dân ở đây có mối liên hệ về cội nguồn lịch sử, chung một nguồn gốc dân cư, chung một quá trình hình thành và phát triển. Vùng đất nầy có tên gọi là xã Triều Sơn, một trong 67 xã thuộc huyện Tư Vinh có tên trong sách Ô Châu cận lục do Dương Văn An viết năm 1553.



Triều Sơn được thành lập vào khoảng đời vua Lê Nhân Tông giữa thế kỷ XV. Thời các chúa Nguyễn (1558-1775), Triều Sơn gồm 4 làng thuộc tổng Vĩnh Trị huyện Hương Trà. Chiếu theo gia phả của các dòng họ, Triều Sơn được thành lập trên cơ sở 11 họ tộc khai canh lập làng. Gia phả nhiều dòng họ ghi chép rằng tổ tiên nguyên là người xã Bạch Cao, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa thuộc đất Hoan Châu xưa, đến triều Lê Nhân Tông năm Thái Hòa thứ 3 (chiếu theo Dương lịch là năm 1445) di cư đến vùng Thuận Hóa và thành lập nên xã Triều Sơn.

Các họ ở Triều Sơn đều cùng khai canh lập địa, nhưng đến năm 1769, sau 3 lần triệu tập họp bàn, 11 họ quyết định phân chia Triều Sơn gồm 4 giáp: Giáp Đông, Giáp Tây, Giáp Nam, Giáp Trung. Về mặt địa giới hành chính, Triều Sơn Nam, Triều Sơn Đông nằm gần nhau dọc sông Hương, thuộc về Hương Vinh. Triều Sơn Tây ở hai bên đường quốc lộ I thuộc phường Hương Sơ. Triều Sơn Trung nằm ở xã Hương Toàn.

Ngày nay vẫn còn một ngôi đình chung cho dân của 4 làng Triều Sơn. Đình làng do Ngài Đỗ Văn An làm quan cùng con cháu trong 11 họ xây cất để ghi nhớ công đức các vị tiền bối khai canh, hữu công khai khẩn. Đình được lập tại Triều Sơn Đông, đó là nơi tế lễ chung của 4 thôn Tứ Triều. Hằng năm lễ tế tại đình làng được tổ chức vào ngày 01 tháng 7 Âm lịch, để con cháu có dịp gần gũi đoàn kết, gắn bó nhau.

Đình làng Triều Sơn Đông
Ở Triều Sơn Đông, sau khi phân chia 4 giáp, vào triều Lê Hiển Tông năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775), trong 11 họ được phân về các giáp thì tại Triều Sơn Đông có 6 họ Tiền Khai canh, Hậu Khai khẩn. Trước đây con cháu các họ đều tranh chấp về vị trí cao thấp của họ mình, họ đã nhiều lần phát đơn khiếu nại với quan cai trị ròng rã 8 năm 3 tháng. Sau đó Bộ Lễ chiếu theo hương phổ và những giấy tờ khác có trong giáp duyệt y thứ tự của các dòng họ là Hoàng, Đỗ, Lê, Hồ, Trần, Mạc, Phùng (vô tự). Điều này đã được sắc phong của vua Thành Thái năm thứ 17 (12-5-1905) là “Dực bảo Trung hưng Linh phò chi thần” và các đại quan cấp văn bằng chính thức vào năm Duy Tân thứ 8 (ngày 02-4-1914).

Đình làng Triều Sơn Nam
Triều Sơn Nam có bốn họ chính là Lê, Đỗ, Trần, Phùng (riêng họ Phùng về sau vô tự) và các họ phái đến sau như Phạm, Châu Công, Nguyễn Viết, Hứa, Nguyễn Duy, Châu Văn, Nguyễn
Văn, Hồ, Trần. Các phái họ này có mặt tại Triều Sơn Nam muộn hơn, vào khoảng thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX. Điều này được thể hiện trong gia phả các dòng họ Phạm, Châu Công, Nguyễn Viết, Nguyễn Duy...

(trích Văn hóa - lịch sử Huế qua góc nhìn làng xã phụ cận và quan hệ với bên ngoài)