
"À ư...
Ru con con théc(t) cho muồi,
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi Chợ Quán, Chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu Chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai.
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim..."
Nói
đến cau, ta nghĩ ngay đến Nam Phổ, một làng cạnh dòng sông Hương thơ mộng, từ
Đập đá đi xuống. Làng trồng rất nhiều cây cau cao vút, vì gần nước nên cau rất
ngon và sai quả. Ai mà không khỏi bật cười khi nghe nói "Con gái Nam
Phổ... ... trèo cau"? Ngoài ra làng này còn nổi tiếng với món Bánh Canh
Nam Phổ vào mỗi buổi chiều.
Mua trầu chợ Dinh. Đó là
Trầu Cau (có khi gọi là Trầu Mọi) ở xứ Cùa, tỉnh Quảng Trị đưa vào do người dân
tộc bán về Dinh, Trầu Quế (có hương vị cay) màu lục, lá dày. Trầu “xà lẹt” lá
dài và nhọn như lá tiêu, có nhiều sứa, màu hơi vàng vàng, phải người sành ăn
mới dùng được vì nó hôi lại có mùi hăng, vị chát, không quen ăn đến phỏng
miệng. Trầu Hương (thơm ngon) lá lục, thường người ta bán ở Huế cao giá hơn các
thứ trầu kia.
Loại Trầu Hương này đi
đôi với cau Nam Phổ, là hai món hàng “quí phái”, nhiều khi đắt giá đến nỗi mấy
o đi chợ phải lên giọng than phiền bằng câu: “Cau Nam Phổ mỗi trái mỗi giác,
Trầu Hương mỗi ngọn mỗi tiền” ! Dầu đắt giá thế đó mà vẫn mua về hầu mẹ (nên
nhớ rằng thuở người ta buông ra lời than vãn ấy, một gánh gạo, dưới quê lên
Dinh chỉ giá một đồng bạc thôi).
Nhưng vì sao phải đi chợ
Dinh mới mua được trầu ngon đủ hương vị cho người sành điệu nhóp nhép? Số là
chợ Dinh lúc bấy giờ cũng như chợ Đông Ba hồi đó là nơi hẹn hò khách bốn phương
về chầu chúa Nguyễn.
Chợ dinh bán áo con trai.
Nhiều người đưa giả thuyết là bán áo con trai (đàn ông) rồi cứ dẫn chứng này
nọ, thế sao không nói đến áo con gái, áo con gái bán ở đâu. Theo tôi nghĩ “áo
con trai” ở đây chính là thịt con trai, con hến, vì chợ Dinh nằm cạnh Cồn Hến,
người dân khai thác hến ở dưới sông đem lên đây để bán. Phần áo trai không tin
mọi người giở sách Sinh học lớp 7 ra mà xem.
Theo nhà báo Đan Duy đăng
trên Báo Thừa Thiên Huế số ra ngày 12/10/2011 như thế này: ‘Thời của “Chợ Dinh
bán áo con trai” cũng là thời chiếc áo vải thô nặng trịch. Trong cảnh vạt áo vá
vai, chuyện áo quần cho con trẻ, các bậc cha mẹ nghèo cũng không có cách nào
hơn, thường phải tận dụng đồ phế thải của người lớn để may lại. Áo may đơn
giản, không cầu kỳ trai gái, cốt có để mặc. Nắm bắt nhu cầu đó của người đời,
một số kẻ tìm mua quần áo cũ đem về may lại đồ con nít đủ cỡ, rồi đem “bỏ chợ”
như một nghề kiếm sống. Chiếc áo phi nam phi nữ kia, muốn cho dễ ngó thì có anh
thợ nhuộm, cứ thuê nhuộm đủ màu để người mua tha hồ lựa chọn.” Không biết ông
căn cứ ở đâu nữa.
Triều
Sơn bán nón. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn thì: “Nón dứa ờ Thuận-hóa
cách chế nón khác các nơi. Thôn Tam-giáp-thượng và làng Triều-sơn ở huyện
Phú-vinh ( Tư Vinh) dệt nón rất là nhỏ và mỏng. Làng Triều Sơn trước đây gọi là
Triều Sơn xã, thuộc huyện Tư Vinh. Sau này chia thành bốn giáp Đông, Nam, Tây,
Trung mà ta thường gọi là Triều Sơn Đông, Triều Sơn Nam ( thuộc xã Hương Vinh,
Hương Trà), Triều Sơn Tây (phường An Hòa, thành phố Huế), Triều Sơn Trung (xã
Hương Toàn, Hương Trà).
Mậu Tài bán kim. Theo Phủ
biên tạp lục của Lê Quý Đôn: “Làng Võng-thì huyện Phú-vinh chuyên nghề làm cuốc
sẻng dao búa. Làng Mậu-tài chuyên nghề làm giây thau giây sắt”. Có thể giây
thau giây sắt này là nguồn gốc của nghề làm kim khâu hiện tại. Làng Mậu Tài
hiện nay thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế ( đối diện Làng
Triều Sơn Đông bên kia sông Hương).
Bài sử dụng văn phong và
cách nghĩ riêng của tác giả. Nhờ các nhà Huế học cho ý kiến.
TRẦN TRUNG






