Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

ĐIỆU RU CON XỨ HUẾ - VÀ ĐỊA DANH LIÊN QUAN



"À ư...
Ru con con théc(t) cho muồi,
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi Chợ Quán, Chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu Chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai.
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim..."
          Chợ Quán là nói tắt của làng Lương Quán, vùng Nguyệt Biều. Ai cũng biết vùng này của đất Thừa Thiên có đá vôi, thời Pháp thuộc đã khai thác nhà máy vôi Long Thọ, sản xuất vôi dùng vào việc xây cất nhà cửa, cầu cống. Còn Chợ Cầu , có nhiều cách nghĩ, có thể là chợ trên cây cầu, chợ cầu làng Thanh Lương... nhưng theo tôi nghĩ đó là chợ cầu Hai, vì vôi có 2 nguồn, có thể từ núi đá vôi và cũng có thể từ vôi động vật thân mềm như hàu, trai... mà Cầu Hai Phú Lộc thì những loài này rất nhiều. Ngày nay vùng Lăng Cô vẫn còn nung hàu lấy vôi đó.
Nói đến cau, ta nghĩ ngay đến Nam Phổ, một làng cạnh dòng sông Hương thơ mộng, từ Đập đá đi xuống. Làng trồng rất nhiều cây cau cao vút, vì gần nước nên cau rất ngon và sai quả. Ai mà không khỏi bật cười khi nghe nói "Con gái Nam Phổ... ... trèo cau"? Ngoài ra làng này còn nổi tiếng với món Bánh Canh Nam Phổ vào mỗi buổi chiều.
Mua trầu chợ Dinh. Đó là Trầu Cau (có khi gọi là Trầu Mọi) ở xứ Cùa, tỉnh Quảng Trị đưa vào do người dân tộc bán về Dinh, Trầu Quế (có hương vị cay) màu lục, lá dày. Trầu “xà lẹt” lá dài và nhọn như lá tiêu, có nhiều sứa, màu hơi vàng vàng, phải người sành ăn mới dùng được vì nó hôi lại có mùi hăng, vị chát, không quen ăn đến phỏng miệng. Trầu Hương (thơm ngon) lá lục, thường người ta bán ở Huế cao giá hơn các thứ trầu kia.
Loại Trầu Hương này đi đôi với cau Nam Phổ, là hai món hàng “quí phái”, nhiều khi đắt giá đến nỗi mấy o đi chợ phải lên giọng than phiền bằng câu: “Cau Nam Phổ mỗi trái mỗi giác, Trầu Hương mỗi ngọn mỗi tiền” ! Dầu đắt giá thế đó mà vẫn mua về hầu mẹ (nên nhớ rằng thuở người ta buông ra lời than vãn ấy, một gánh gạo, dưới quê lên Dinh chỉ giá một đồng bạc thôi).
Nhưng vì sao phải đi chợ Dinh mới mua được trầu ngon đủ hương vị cho người sành điệu nhóp nhép? Số là chợ Dinh lúc bấy giờ cũng như chợ Đông Ba hồi đó là nơi hẹn hò khách bốn phương về chầu chúa Nguyễn.

Chợ dinh bán áo con trai. Nhiều người đưa giả thuyết là bán áo con trai (đàn ông) rồi cứ dẫn chứng này nọ, thế sao không nói đến áo con gái, áo con gái bán ở đâu. Theo tôi nghĩ “áo con trai” ở đây chính là thịt con trai, con hến, vì chợ Dinh nằm cạnh Cồn Hến, người dân khai thác hến ở dưới sông đem lên đây để bán. Phần áo trai không tin mọi người giở sách Sinh học lớp 7 ra mà xem.
Theo nhà báo Đan Duy đăng trên Báo Thừa Thiên Huế số ra ngày 12/10/2011 như thế này: ‘Thời của “Chợ Dinh bán áo con trai” cũng là thời chiếc áo vải thô nặng trịch. Trong cảnh vạt áo vá vai, chuyện áo quần cho con trẻ, các bậc cha mẹ nghèo cũng không có cách nào hơn, thường phải tận dụng đồ phế thải của người lớn để may lại. Áo may đơn giản, không cầu kỳ trai gái, cốt có để mặc. Nắm bắt nhu cầu đó của người đời, một số kẻ tìm mua quần áo cũ đem về may lại đồ con nít đủ cỡ, rồi đem “bỏ chợ” như một nghề kiếm sống. Chiếc áo phi nam phi nữ kia, muốn cho dễ ngó thì có anh thợ nhuộm, cứ thuê nhuộm đủ màu để người mua tha hồ lựa chọn.” Không biết ông căn cứ ở đâu nữa.

Triều Sơn bán nón. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn thì: “Nón dứa ờ Thuận-hóa cách chế nón khác các nơi. Thôn Tam-giáp-thượng và làng Triều-sơn ở huyện Phú-vinh ( Tư Vinh) dệt nón rất là nhỏ và mỏng. Làng Triều Sơn trước đây gọi là Triều Sơn xã, thuộc huyện Tư Vinh. Sau này chia thành bốn giáp Đông, Nam, Tây, Trung mà ta thường gọi là Triều Sơn Đông, Triều Sơn Nam ( thuộc xã Hương Vinh, Hương Trà), Triều Sơn Tây (phường An Hòa, thành phố Huế), Triều Sơn Trung (xã Hương Toàn, Hương Trà).
Mậu Tài bán kim. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn: “Làng Võng-thì huyện Phú-vinh chuyên nghề làm cuốc sẻng dao búa. Làng Mậu-tài chuyên nghề làm giây thau giây sắt”. Có thể giây thau giây sắt này là nguồn gốc của nghề làm kim khâu hiện tại. Làng Mậu Tài hiện nay thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế ( đối diện Làng Triều Sơn Đông bên kia sông Hương).

Bài sử dụng văn phong và cách nghĩ riêng của tác giả. Nhờ các nhà Huế học cho ý kiến.
TRẦN TRUNG

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

CỒN LỚN TRIỀU SƠN QUA CÁC THỜI KỲ (2002-2015) - CẬP NHẬT 2017


Cồn lớn Triều Sơn nằm ở giữa sông Hương đoạn trên ngã ba Sình theo phía thượng nguồn. Lịch sử hình thành Cồn lớn có liên quan đến sự dịch chuyển giao thương của Thương cảng Thanh Hà lên phố Bao Vinh một thời sầm uất của xứ Đàng Trong, Cồn đồng thời cũng là nơi canh tác nông nghiệp lâu đời của người dân Triều Sơn. Qua bao nhiêu năm bồi lở theo quy luật tự nhiên thì hiện nay Cồn đã bị sạt lở nghiêm trọng do nạn khai thác cát trái phép mà chính quyền và người dân địa phương hiện nay vẫn chưa có giải pháp xử lý dứt điểm.
Dưới đây là hình ảnh từ năm 2002 đến năm 2015 được cắt ra từ ảnh bản đồ của Google.

Ảnh ngày 18/4/2002. Cồn còn nguyên vẹn

Ảnh ngày 29/10/2012 Sạt lở phần dót trên và một phần bên phía làng Thanh Tiên

Ảnh ngày 23/7/2014 Lở sâu hơn ở chỗ cũ

Ảnh ngày 16/5/2015 Lở nghiêm trọng hơn, đặc biệt là phía Thanh Tiên

Ảnh ngày 01/05/2017 bị hút cực kỳ nghiêm trọng.
Càng ngày càng cho thấy bọn cát tặc biết rõ phạm vi quản lý của Cồn Lớn. Nên chúng hút cát phía khuất bên kia để người dân xã Hương Vinh không biết.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

BÀN VỀ CHUYỆN BỚI MẢ Ở ĐẤT THỪA THIÊN.


Từ nhỏ đến lớn sống ở Thừa Thiên thì TT cũng biết được nhiều phong tục tập quán cũng như những cái tốt và xấu của đất Thừa Thiên. Người Thừa Thiên mà tức nhau, chửi nhau thậm tệ thì họ cũng hay dùng từ "BỚI MẢ" để chỉ điều đó. Thế mà mấy hôm nay lại có rất nhiều người đi BỚI MẢ một bậc hiền nhân, một vị vua giỏi đánh giặc, giỏi ngoại giao và cũng là một nhà cải cách.
Mà theo tôi nghĩ, việc BỚI MẢ này chắc chắn sẽ không đem lại kết quả gìnhiều vì sẽ có 2 giả thiết sau đây:
Thứ nhất: Ngôi mộ đó còn nguyên. Như chúng ta biết, các bậc vua chúa thường rất kỹ càng trong việc chôn cất. Chỗ chôn vua là chỗ bí mật để kẻ thù, kẻ trộm mộ và người đời sau không BỚI lên. Theo dân gian thì những người đi chôn vua sẽ có án tử ngay khi vừa chôn xong để không ai biết chính xác huyệt mộ ở đâu. Thế thì hơn 200 năm với bao nhiêu vật đổi sao dời, mưa gió bão lụt của đất Thừa Thiên sẽ làm cho không còn dấu vết và giống như mò kim đáy bể.
Mấu chốt của lập luận ông X là câu: “Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta” (cung điện Đan Dương là nơi chôn cất thi hài của nhà vua) trong phần chú thích của bài thơ Cảm hoài của Ngô Thì Nhậm. Theo thuyết âm mưu thì chẳng qua ông Ngô Thì Nhậm tung ra câu này là để đánh lạc hướng quân của Vua Gia Long sau này thôi. Vì mộ giấu được chứ cung điện thì nằm chình ình ra đó, tung cái tin hỏa mù để vớt vác được chừng nào hay chừng đó, đường nào mình cũng chết rồi.
Giả thiết thứ hai: Ngôi mộ chôn vị trí nhiều người biết như trong cung Đan Dương mà ông X nói chẳng hạn. Thế thì theo đúng như các chuyện kể về Triều Nguyễn nói rồi. Tương truyền nhà Nguyễn sau khi giành lại Phú Xuân đã trả thù nhà Tây Sơn bằng nhiều phương pháp như đào mộ Vua Quang Trung lên rồi giã ra, cho quân lính làm nhục, rồi bỏ đầu lâu vào vò cùng 2 vị vua Tây Sơn khác rồi đem giam, theo tin đồn thì khi thất thủ kinh đô năm 1885 thì các vò này được ai đó cứu ra và mất tích từ đó đến nay. Và nếu giả thiết thứ 2 này đúng thì chắc chắn cái mộ đó tanh bành rồi chứ còn mà đợi các ông khai quật.
Nếu đặt tên cuộc khai quật theo ý khai quật các di chỉ, di tích thời Tây Sơn thì còn được chứ đừng có theo cái ý là đi BỚI MÃ.
Dù gì cũng xin lỗi bậc tiền bối vì đã mạo phạm, nhưng tôi không thích ỷ già mà chém gió.
TT, dân Thừa Thiên.

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

Văn Miếu và Miếu Hội đồng tại Làng Triều Sơn

Phần nhiều các sách viết về xứ Đàng Trong đều chưa làm sáng tỏ về việc học hành và khoa cử dưới thời 9 chúa ở phía Nam. Có nêu chăng là chỉ nhắc đến các khoa thi Chính đồ và Hoa Văn để tuyển chọn nhân tài, ngoài việc tuyển cử người hiền ra giúp nước.
Hiện chúng ta chưa thấy có tài liệu nào xác định rõ đất Triều Sơn được chọn lập Văn Miếu từ năm nào, chỉ nói vào buổi quốc sơ, theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí. Thuở xa xưa, Triều Sơn chưa phải là Xã vì sách Ô Châu Cận Lục không ghi chép tên làng văn hiến này. Sách Phủ Biên Tạp Lục cho biết Triều Sơn xã thuộc Mậu Tài (1), huyện Phú Vang. Cần lưu ý là ranh giới hành chính hoàn toàn khác hẳn với ngày nay. Ngày xưa xã là làng, làng là xã. Một vinh dự lớn cho làng Triều Sơn, là vào tháng 5 năm Giáp Tý, niên hiệu Gia Long thứ 3 (năm 1806), triều đình dựng miếu Hội đồng ở làng văn hiến này và chọn 30 người dân làm miếu phu. Đừng coi thường làng nổi tiếng về nghề thủ công làm nón này. Trước năm 1692, làng Triều Sơn đã có Văn miếu, chúa Nguyễn Phúc Chu thường ra đây xem cảnh vật và có ý định muốn dời miếu này đi nơi khác sao cho có cuộc đất thoáng đãng hơn. Văn miếu này cũng là của Làng và của triều đình xứ Đàng Trong. Năm 1770, chúa Nguyễn Phúc Thuần, hiệu Khánh Phủ Đạo Nhân, cho dời Văn miếu về xã Long Hồ, huyện Hương Trà.